(Bstyle)-Qua các vụ tranh chấp về quyền quản lý, điều hành tại một số doanh nghiệp hiện nay, Phong Cách Doanh Nhân đã có cuộc trao đổi với ông Từ Thanh Thảo – giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM để rút ra một số bài học và làm rõ những vấn đề pháp lý về quản trị công ty.

Viết bởi Tracy Lee
05-09-2016

Điều kiện thông qua Nghị quyết của HĐQT

Nghiên cứu sinh – Thạc sĩ Từ Thanh Thảo cho biết, về vấn đề thông qua Nghị quyết của HĐQT, theo khoản 9 Điều 153 Luật DN 2014, Nghị quyết của HĐQT được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp tán thành; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch HĐQT. Mặt khác, cuộc họp HĐQT chỉ được tiến hành khi có từ ba phần tư (hoặc có hơn một nửa - đối với cuộc họp lần 2) tổng số thành viên trở lên dự họp, nếu không cuộc họp này không đúng luật và nghị quyết được ban hành tại cuộc họp này sẽ không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, tại cuộc họp, một người vẫn có thể tham dự với 2 tư cách (tương đương với 2 thành viên tham dự): thành viên HĐQT và thành viên HĐQT được ủy quyền (nếu có 1 thành viên HĐQT không tham dự được và nhờ ủy quyền).

Ngoài ra, một khả năng khác là tuy cuộc họp có đủ thành viên, nhưng 2/3 thành viên bỏ phiếu trắng (không có ý kiến), còn số thành viên còn lại bỏ phiếu đồng ý thì nghị quyết vẫn được thông qua (điểm g, khoản 1 Điều 154 LDN 2014).

Quy trình bãi miễn Chủ tịch HĐQT và người đại diện theo pháp luật

Theo Luật DN 2005 thì ĐHĐCĐ hoặc HĐQT bầu Chủ tịch HĐQT theo quy định tại Điều lệ công ty (Điều 111), còn đối với việc bãi miễn thành viên HĐQT, trong đó có Chủ tịch, sẽ chỉ do ĐHĐCĐ quyết định. Tuy nhiên, Luật DN 2014 đã cho phép HĐQT có quyền bầu và cũng có quyền trực tiếp bãi miễn Chủ tịch HĐQT (khoản 1, 6 điều 152). Do đó, nếu điều lệ của bất kì một công ty nào dù không có điều khoản nào quy định cho HĐQT có quyền bãi miễn Chủ tịch HĐQT thì theo Luật DN 2014, HĐQT vẫn đương nhiên có quyền quyền bãi miễn Chủ tịch HĐQT.

Về quy trình, cuộc họp HĐQT sẽ do Chủ tịch HĐQT triệu tập. Trường hợp Chủ tịch không triệu tập họp theo đề nghị thì người đề nghị có quyền thay thế triệu tập họp HĐQT. Phải có đề nghị của ít nhất 02 thành viên điều hành của HĐQT thì Chủ tịch mới có nghĩa vụ triệu tập họp HĐQT (khoản 4,5 điều 153 LDN 2014). Giả sử nếu một công ty cũng không có Ban kiểm soát và thành viên độc lập HĐQT, thì chỉ có duy nhất Chủ tịch HĐQT mới có quyền triệu tập họp HĐQT. Tuy nhiên theo quy định thì mỗi quý trong năm, HĐQT bắt buộc phải họp ít nhất 1 lần (khoản 3 điều 153).

Đối với việc bãi miễn vai trò người đại diện theo pháp luật của công ty thì chia thành hai trường hợp: nếu việc thay đổi người đại diện theo pháp luật làm thay đổi nội dung Điều lệ công ty thì phải có nghị quyết của ĐHĐCĐ về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật. Còn việc thay đổi người đại diện theo pháp luật không làm thay đổi nội dung của Điều lệ công ty ngoài nội dung họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật thì chỉ cần nghị quyết của HĐQT (khoản 3 Điều 43 NĐ 78/2015/NĐ-CP).

Bàn thêm về vấn đề này, ông Từ Thanh Thảo cho biết thêm, công ty mẹ có thể “can thiệp” vào hoạt động của công ty con bằng những cách khác nhau, nhưng tựu chung lại có 2 cách: Đầu tiên, công ty mẹ có thể “can thiệp” vào hoạt động của công ty con thông qua việc thực hiện quyền của cổ đông lớn tại cuộc họp ĐHĐCĐ công ty con. Bên cạnh đó, công ty mẹ sẽ chi phối hoạt động quản trị công ty con của HĐQT thông qua người đại diện là thành viên HĐQT trong công ty con.

 Theo ấn phẩm Phong Cách Doanh Nhân

You may also like

Latest